Cảnh đẹp

Chào mừng các bạn đến với website Góc riêng tôi của Nguyễn Thụy Thủy .

Các bạn chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Bài viết > Quê tôi >

Lịch sử tên nước VN

 

 

http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQqF1l9uhWQvTSzprV9Yjv-IlhYTvIYIxkBXwhc6i4fVbSRdgM-

1) Xích Quỷ:

Vào niên đại Kinh Dương Vương(năm 2879 - thế kỷ II BC), địa bàn quốc gia rộng lớn, phía bắc tới sông Dương tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải, một phần của Thái Bình Dương, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), thuộc nước Tàu ngày nay.

Về sau do sự lấn áp võ dõng của du mục Hoa tộc, Việt tộc lui dần về địa bàn gốc. Đánh dấu bằng các niên đại vua Hùng với tên nước là Văn Lang. Năm chót của niên đại này là năm 257 AD.

2) Văn Lang:

Thuộc về đời Hồng Bàng(2879 - 258 BC) Đầu thời kỳ đồ đồng, những bô lạc người Việt sống ở miền Bắc và phía Bắc trung tâm VN. Tính ra có khoảng 15 nhóm Lạc Việt khác nhau sống trên vùng cao nguyên miền Bắc và miền châu thổ sông Hồng Hà, hơn 12 nhóm Âu Việt sống nơi miền Đông Bắc.

Để tiện việc trao đổi buôn bán, phòng chống lụt lội, chống lại kẻ thù ... Họ có khuynh hướng gom tụ lại thành một nhóm to lớn hơn. Trong số những bộ lạc Lạc Việt, Văn Lang là mạnh nhất. Những bộ lạc Lạc Việt được gom lại thành một nước lấy tên Văn Langtự xưng Hùng Vương.

Thời kỳ Bắc thuộc:

Trong thời kỳ đô hộ bởi Chế độ phong kiến phương Bắc, nước VN bị chia cắt nhiều và mang tên như là những quận huyện của nhà nước cai trị đương thời. Năm 221 trước CN, Tần Thủy Hoàng, vua Trung Hoa, xâm chiếm lãnh thổ Việt. Nhà Tầnlược định phía Namvà gọi là Tượng quận (246 -206 BC)

3) Âu Lạc:

Đời nhà Thục An Dương Vương Âu Việt (257-207 BC) đã đuổi được Trung hoa và lấy tên Âu Lạc (năm 208 trước CN)

Khoảng năm 208 TCN, Triệu Đà, vua nước Nam Việt (203-137 BC) xưng hiệu Nam Việt Võ Vương hay là Nam Việt Võ Đế đã tung quân đánh chiếm Âu Lạc (VN) Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ.

- Nhà Hán lật đổ nhà Triệu và chia Tượng quận ra thành 3 quận nhỏ: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (202 220 BC)

- Cuối nhà Đông Hán trị vì ở Trung Quốc, vua Hiến Đế đổi quận Giao Chỉthành Giao Châu. Nơi đây là cái nôi của nước VN ta ngày nay.

4) Vạn Xuân:

Lý Bí hiệu Lý Nam Đế (542-602) xua đuổi được quân Tàu nhưng không bao lâu lại bị quân Tàu chiếm trở lại từ năm 602 cho đến khi Ngô Quyền chiến thắng trận Bạch Đằng năm 938 và chấm dứt sự đô hộ của người Tàu.

An Nam Quốc (An Nam đô hộ phủ):

Năm 673-757 và 768-866, Nhà Đường thụ phong cho nước tạ Nước VN lại mang tên mới là An Nam đô hộ phủ nay là khu vực lãnh thổ tương ứng với miền Bắc VN. Nguồn gốc danh xưng này là của người nước ngoài chỉ lãnh thổ VN trong một số thời kỳ lúc VN bị Trung Quốc đô hộ. Các triều vua VN thường phải nhận thụ phong của Trung Quốc với danh hiệu An Nam quốc vương.

5) Đại Cồ Việt:

Từ năm (968-1054), Đinh Bộ Lĩnh đánh thắng Thập nhị Tướng Quân và thống nhất lãnh thổ, ông xưng Vương và đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Tên này giữ nguyên dưới triều đại nhà Đinh (869-979), Lê (980-1009) và cho đến đầu triều đại nhà Lý Thánh Tông (1010-1053)

6) Đại Việt:

NhàTống công nhận nước ta là một quốc gia độc lập, dưới triều vua Lý Thánh Tông từ (1054-1226)

7) Đại Ngu:

Năm 1400-1407, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần và đổi quốc hiệu là Đại Ngu (nghĩa là hòa bình) Tên này được dùng cho đến khi quân Minh xâm chiếm nước Đại Ngu và thắng họ Hồ năm 1407.

Sau 10 năm kháng cự với quân Minh đang xâm chiếm nước ta (1418-1427), Lê Lợi đại thắng quân Minh. Năm 1428 ông lên ngôi và lấy trở lại tên cũ là Đại Việt. Tên này tồn tại trong suốt triều đại nhà Lê (1428-1787) và nhà Tây Sơn (1788-1810)

8) VN:

Thời vua Gia Long (1802-1820)thế kỷ 19 thống nhất cả hai miền Nam Bắc, lấy quốc hiệu là VN từ chữ An Nam và Việt Thường.

Tuy nhiên, tên gọi "VN"có thể đã xuất hiện sớm hơn. Ngay từ cuối thế kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề VN thế chí(nay không còn) do Hàn lâm viện học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn. Còn cuốn Dư địa chí viết đầu thế kỷ 15 của Nguyễn Trãi (1380-1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "VN".

Người ta cũng tìm thấy hai chữ "VN"trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Tây, bia chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc Ninh...

Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "VN hầu thiệt, trấn Bắc ải quan". Đây là cửa ngo yết hầu của nước VN và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc.

9) Đại Nam:

Trong triều đại Minh Mạng (1820-1840) tên nước lại được đổi là Đại Nam nhưng cái tên VN vẫn tồn tại rộng rãi khắp nơi trong văn chương, kinh tế và xã hội.

10) Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa VN:

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa 6 nước VN Dân Chủ Cộng Hoà đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN. Quốc hiệu này được sử dụng từ đó đến nay.

 


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Thụy Thủy @ 12:50 18/02/2011
Số lượt xem: 567
Số lượt thích: 0 người
Avatar

Khà, khà !!! Tài liệu quý đó !

Thăm cô Thủy nè !

 
Gửi ý kiến

LIÊN KẾT TRUY CẬP